Vietnamese-VNEnglish (United Kingdom)繁體中文Korean(Republic of Korea))
 
Từ tiếp xúc văn hóa trong quá khứ đến kinh nghiệm để hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục đại học hôm nay PDF. In Email
Thứ bảy, 26 Tháng 1 2013 09:10

 

 

TỪ TIẾP XÚC VĂN HOÁ TRONG QUÁ KHỨ ĐẾN KINH NGHIỆM  ĐỂ
  HƯỚNG TỚI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HÔM NAY
 
 
Đinh Văn Đức
GS trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG HN
 
 
     Việt Nam từ cuộc đổi mới 1986 đã bước vào một thời kỳ mới trong lịch sử một trong những nội dung quan trọng đó là hội nhập quốc tế để cùng phát triển. Rõ ràng là trong lịch sử có những vấn đề trước kia chúng ta rất quan tâm thì bây giờ đã lùi vào hậu trường nhưng đồng thời cũng những vấn đề mới đang đặt ra trong số đó có rất nhiều khía cạnh mà chúng tôi cho rằng vấn đề giao lưu giữa các nền văn hoá khác với Việt Nam trong quá khứ đã tạo ra những kinh nghiệm cho phát triển hôm nay trong điều kiện hoà bình và hội nhập là một trong khía cạnh quan trọng của giáo dục.
          Để xác định được vấn đề này cũng cần nhận thức cho rõ là nên bắt đầu từ đâu và cần có một quan niệm như thế nào về tiếp xúc văn hoá trong giáo dục Việt Nam, về nội dung việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong phát triển và đó cũng là một kinh nghiệm tốt cho việc phát triển đại học.
        Trên thế giới việc tiếp xúc văn hoá giữa các nền văn hoá việc giao lưu đó là qui luật tất yếu và trong quá trình tiếp xúc mỗi nền văn hoá bản địa đã có những gì thay đổi, những gì bất biến những gì là khả biến và cái gì làm thành chất liệu cốt lõi về vấn đề văn hoá, cái chất liệu ấy sẽ quyết định tư tưởng của một dân tộc và đưa họ đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Trong quá khứ thì ở Việt Nam văn hoá đã có những tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau trong đó tiếp xúc với văn hoá Hán có cả tới ngàn năm và có những tiếp xúc diễn ra trong vài trăm năm và thậm chí chỉ diễn ra trong vài chục năm, nhưng lâu dài hay ít đều có để lại những dấu ấn nhất định và những dấu ấn đó người Việt Nam rất dễ nhận ra trong quá trình hành xử của mình.
             Ở đây vấn đề quan trọng nhất là sự tiếp xúc đó được người Việt Nam thực hiện như thế nào khi tiếp xúc văn hoá rất phức tạp thậm chí còn có cả mâu thuẫn, nhưng điều cốt yếu nhất trong quá trình đó người Việt Nam tôn trọng những giá trị phố quát (Universal) đồng thời tìm cách nội địa hoá và tạo ra những đặc thù (Particular) cho mình và vì vậy cho nên là văn hoá Việt Nam trong tiếp xúc với quốc tế luôn luôn có được một bản sắc riêng, bản sắc riêng đó có được là nhờ nội địa hoá từ nội lực
           Sự tiếp xúc đầu tiên của văn hoá Việt Nam đã diễn ra rất dài trên một với văn hoá Trung Hoa và tiếp xúc đó quan trọng nhất là qua kênh nho giáo và văn tự và văn hoá Việt Nam từ thế kỷ XVII trở đi bắt đầu có những tiếp xúc với phương Tây trươc tiên với người Bồ Đào Nha sau đó với người Hà Lan, người Anh sau nữa là người Pháp. Những tiếp xúc với phương Tây của Việt Nam đã diễn ra sau khi đã có sự chuẩn bị và kinh nghiệm ngàn năm về sự tiếp xúc văn hoá giữa Việt và Hán.
          Với nho giáo Việt Nam, người Việt tiếp xúc với phương Tây trên tư cách là sắn có một văn hoá có hệ thống về tư tưởng nhưng mà nho giáo ấy đã được nội địa hoá Việt Nam chứ không còn là nho giáo thực tế Trung Hoa. Trong một thời gian khá dài nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã ngộ nhận rằng dường như là văn hoá Việt Nam chỉ là một nhánh của văn hoá Trung Quốc nhưng rõ ràng điều này đã bị thực tế không xác nhận. Nho giáo xuất xứ từ Trung Hoa là hệ thống tư tưởng dày đặc được truyền bá từ đời này qua đời khác như một hệ tư tưởng chính trị của phong kiến Trung Hoa. Nho giáo ấy đã vào Việt Nam khi Việt Nam đã độc lập, có phong kiến tập quyền và con đường quan trọng nhất là kênh khoa cử. Nội dung của nho giáo Trung Hoa hệ tư tưởng lấy trung quân làm tiêu chí quan trọng nhất vì đất nước là của vua và thần dân có trách nhiệm là tuân thủ vua và theo vua, sống chết vì vua, trung quân là tiêu chí số một. Tại sao như vậy ? vì nước Trung Hoa đã tự cho mình là bông hoa ở giữa, là quốc gia ở giữa và hoàng đế Trung Hoa thay trời cai quản Trung Quốc (cái nước ở giữa) đó: Miền đất của lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thuỷ được Mở rộng. Tuy nhiên, Việt Nam ở vào một tư thế khác, nước Việt Nam là một nước nhỏ mà lại luôn luôn bị xâm lược, luôn luôn trước nguy cơ đồng hoá và thực tế bị xâm lược và bị đô hộ tới một ngàn năm bởi vậy người Việt Nam còn có tư tưởng rất lớn nữa là tư tưởng độc lập, tư tưởng tiếp nhận nho giáo, kết nối với nho giáo băng một vế thứ hai là Ái quốc, là tư tưởng yêu nước. Trung quân đã đành rồi vì chấp nhận phong kiến, nhưng ái quốc mới là quan trọng bởi vì đối với người Việt Nam thì sơn hà cương vực, sự tồn tại dân tộc là điều quan trọng nhất vì vậy nho giáo khi đến Việt Nam thì đã địa phương hóa, nhấn mạnh vào đặc trưng ái quốc. Nhà vua là đại diện cho dân tộc, đại diện cho đất nước thì nhà vua không chỉ trị vì thiên hạ mà nhà vua cũng phải có tư tưởng yêu nước vì vậy cho nên không lạ là khi bị xâm lăng hay khi bị mất nước thì các vua là những người có trách nhiệm và có tư tưởng có hành động hướng dẫn quần chúng chống xâm lăng. Chỉ kể từ khi độc lập đến nay chúng ta thấy từ vua Lê Đại Hành đến các vua Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ đến Quang Trung rồi những nhà vua về sau như vua Hàm Nghi, vua Duy Tân, vua Thành Thái đều là những nhà vua yêu nước và có trách nhiệm hướng dẫn quần chúng thực hành tư tưởng và những hành vi yêu nước. Tư tưởng ái quốc kết tinh từ truyền thống đã thể hiện trong chủ nghĩa yêu nước hiện đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với phát ngôn nổi tiếng: “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do” (1966). Hồ Chí Minh vừa là nhà lãnh đạo đất nước nhưng cũng đồng thời là nhà yêu nước nổi tiếng và có thể nói rằng tất cả sự nghiệp của Hồ Chí Minh là ở bốn chữ vì dân vì nước.  Đó cũng là sự thể hiện văn hoá Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.
           Việt Nam cũng nhờ có lòng yêu nước,làm mọi việc cho nước, đã trở thành có công lớn  trong phong trào giải phóng dân tộc xoá bỏ chế độ thuộc địa để trong nửa đầu thế kỷ XX. Việt Nam cũng là nơi từng kiểm nghiệm mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa tập trung, kế hoạch hóa  nhưng chủ nghĩa yêu nước, lòng mong muốn "dân giàu nước mạnh" Việt Nam không do dự thực hiện công cuộc đổi mới khi cần thiết cho lợi ịch quốc gia và vì lợi ích dân tộc. Khía cạnh văn hóa của chủ nghĩa yêu nước nó nằm thuộc sâu trong tư tưởng của người dân  và người Việt luôn tìm cach nội địa hóa các tư tưởng có được từ tiếp xúc với bên ngoài. Nó vẫn là động lực của ngày hôm nay khi mà chúng ta phát triển xã hội theo hướng hiện đại hoá. Nếu không có lòng yêu nước không có lòng tự hào dân tộc không có ý thức về độc lập dân tộc thì cũng không thể nào phát triển được kinh tế, xã hội. Khẩu hiệu của chúng ta hôm nay là Việt Nam phấn đấu cho một xã hội mới "dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh" đấy cũng.
            Nội dung của văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới đi lên từ truyền thống cũng lắng đọng và được cụ thể hoá trong các hoạt động và sứ mạng của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hiện tại .
            Giáo dục của chúng ta nay có nhiều mục tiêu nào là đào tào nhân tài nào là đào tạo nguồn lực nào là đáp ứng nhu cầu xã hội,... tất cả những điều đó là những nhu cầu vừa là mong muốn tức là những thiếu hụt cần bù đắp. Giáo dục nước ta từ nay đến năm 2020 và những năm sau có nhiều đòi hỏi cấp bách mà nếu không bình tĩnh, không xuất phát từ nền tảng văn hóa Việt để tìm triết lý thì e rất khó khăn. Không có triết lý thì không thể hành động thích hợp được.
          Giáo dục, bao gồm cả giáo dục đại học, nay tuy còn có nhiều khó khăn và những điều bất cập nhưng rõ ràng là giáo dục Việt Nam trong mấy chục năm vừa qua đã tích cực tham gia vào sứ mệnh là xoá đói giảm nghèo và góp phần đưa nước ta vao ngưỡng cửa của quốc gia thu nhập trung bình Hiện nay, theo chúng tôi văn hoá truyền thống của lòng yêu nước cũng tiếp tục thúc đẩy đại học Việt Nam tham gia tiếp vào sứ mệnh xoá đói giảm nghèo trước khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển theo hướng hiện đại năm 2020.
              Tại sao lại nói như vậy?
              Xin có vài lý giải:  Thoạt tiên là trong cái tiếp xúc quá khứ thì nho giáo là là yếu tố văn hoá có khả năng bắt rễ rất nhanh vào những quốc gia có nền văn minh nông nghiệp đặc biệt là nông thôn nơi mà 90% thậm chí gần 100% người dân sống và hoạt động. Nền văn minh đó lúc đầu rất kỳ thị đối với nền văn minh phương tây, nó xa lạ với văn minh phương tây nó xa lạ từ chi tiết đến nguyên lý. Lúc đầu cái sự tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây rất khó khăn và luôn bị kỳ thị nữa nhưng nhờ tư tưởng “Ích nước , lợi nhà” khiến văn hoá Việt Nam đã không cứng nhắc và đã  uyển chuyển để khai thác và dần dần đạt đến kết quả trong thế kỷ 20. Từ chỗ rất cứng rắn trong sự kỳ thị ví dụ như phong kiến Việt Nam trong thế kỷ XVIII, XIX xung đột với văn minh phương tây và đặc biệt là sự kỳ thị và sự đối đầu với thiên chúa giáo nhưng mà người Việt Nam cũng bình tĩnh nhìn nhận những khía cạnh coa lợi từ văn minh phương tây. 
               Trong nửa cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Việt Nam kiên quyết chống lại ách nô dich của thực dân Pháp, nhưng nhận diện được văn hóa Pháp trong sự tiếp xúc Pháp Việt. Điều này đã đưa tới chuyển biến văn hoá Việt Nam khá mạnh mẽ trong  cả về khoa học, giáo dục và văn hóa. Sự tiếp xúc Pháp Việt vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam và nó mang lại cho Việt Nam một luồng gió mới trên rất nhiều phương diện mà theo đó rất phương hại cho chủ nghĩa bảo hộ thực dân. Trong các lĩnh vực đời sống mà ta gọi là tân thời ( văn học nghệ thuật giáo dục khoa học) người Việt Nam không thuần tuý là bắt chiếc Tây mà nhận diện được những giá trị thật của văn hoá phương tây và tiếp nhận nó một cách rất tự nhiên bằng nội lực và khi đã tiếp nhận thì cũng kiên quyết đổi mới. Lịch sử tư tưởng Việt Nam thì cũng đã có mấy lần đổi mới đầu tiên là Việt Nam đã chấp nhận nho giáo coi đấy là một hệ tư tưởng giúp cho việc củng cố phát triển nền độc lập dân tộc với chế độ phong kiến, sau đó văn hoá Việt Nam đã tưng bước chấp nhận đổi mới khi tiếp cận với văn hoá và văn minh phương tây, mới đây là sự đổi mới từ khi nước Việt Nam giành độc lập thống nhất đi theo xu hướng độc lập, tự chủ để hội nhập, tham gia toàn cầu hoá mà vẫn giữ gìn bản sắc Việt Nam. Tất nhiên không chỉ có Việt Nam mà nhiều nước cũng làm như thế nhưng rõ ràng là chúng ta có ý thức về vấn đề đó chúng ta có hành động về vấn đề đó chúng ta cũng mong muốn vấn đề đó, khi đất nước ta được Độc lập.
               Quả thật trong tiếp xúc văn hoá với nước ngoài ở ta cũng rất nhiều hiện tượng phức tạp mâu thuẫn nhưng chúng ta phải thấy cái gì là cái yêu cầu cơ bản, yêu cầu cơ bản đó là bảo tồn được truyền thống thứ hai là phát triển được trong những điều kiện mới trong những bối cảnh mới và mỗi lần tái cấu trúc thì Việt Nam không phải bắt chước mà Việt Nam phải tự mình hoá giải các mâu thuẫn  để biến sự tiếp cận đó thành nội lực của mình. Tôi lấy một ví dụ, là những người ngôn ngữ học chúng tôi rất hiểu rất rõ giá trị của cách đọc  Hán Việt. Rõ ràng tiếng Hán vào Việt Nam với một áp lực vô cùng mạnh mẽ bởi vì cái mạnh mẽ ấy không chỉ là áp lực của một nền văn hoá lớn mà còn sức mạnh của tiếng Hán trong khu vực còn là sức mạnh của nho giáo và nền kinh tế Hán. Riêng về mặt nhà nước thì chính sách đồng hoá của phong kiến phương bắc đã gây ra bao khó khăn cho văn hóa Việt nhưng tiếng Hán vào Việt Nam đã không làm cho tiếng Việt bị Hán hoá mà ngược lại tiếng Hán đã được Việt hoá. Hệ thống cách đọc Hán Việt đã trở thành một kết quả tuyệt vời trong cuộc giao lưu văn hoá giữa Hán ngữ và Việt ngữ. Ngày nay chúng ta thấy tuy 65% vốn từ vựng tiếng Việt hiện đại, đặc biệt những thuật ngữ khoa học, xã hội, chính trị hình thành từ vốn Hán Việt kể cả những lĩnh vực mới nhất như là kỹ thuật số hoá, truyền thông, tiếp thị, công nghệ thông tin… người ta sử dụng Hán Việt như là một cái vốn tôt của tiếng Việt vì nó được Việt hoá, Việt hoá trong phát âm Việt hoá trong cách sử dụng và Việt hoá trong khi gia nhập vào hệ thống Việt. Tuy nhiên chúng ta thấy không đơn giản là vì truyền thống văn hoá Việt có từ lâu, khi nho giáo vào Việt Nam thì nươc Việt Nam đã có từ ngàn năm trước đã có lãnh thổ cương vực để xác lập cái nền cho văn hoá Việt có thể tiếp nhận và có thể nội địa hoá được cái mới. Chúng ta thấy về mặt tôn giáo Thiên chúa giáo là một tôn giáo hoàn toàn mang tính chất phương tây lúc đầu khi cập đến bền bờ Việt Nam thì bị chống đối rất nhiều nhưng sau đó được một bộ phận người Việt Nam tiếp nhận. Sự hoá giải giữa thiên chúa giáo với một đất nước phong kiến và nho giáo quả thực cực kỳ khó khăn và cực kỳ gian khổ nhưng ngày nay đất nước Việt Nam có tơi khoảng 7 triệu bà con giáo dân sống đồng hành cùng với Tổ quốc, dân tộc Việt Nam hoà nhập chung với cộng đồng Việt cùng tồn tại với phật giáo và nhiều tôn giáo khác, mẫu số chung quy đồng là gì, mẫu số chung đó chính là văn hoá Việt Nam và trên hết là tổ quốc Việt Nam dân tộc Việt Nam con người Việt Nam và những giá trị Việt từ đời nay qua đời khác. Người ta khó tượng tưởng được rằng ở một một ngôi làng trong nông thôn Việt Nam thì đầu này có nhà thờ thiên chúa giáo đầu kia làng thì có chùa rồi có đền thờ thành hoàng và tất cả đều chung sống trong một mái nhà. Phải gian khổ chắt lọc như thế nào, kinh nghiệm quá khứ phải thế nào, có dân tộc có am hiểu về chính trị am hiểu về văn hoá thế nào thì mới nội địa hoá thành cảnh quan độc đáo như vậy. Chính vì người Việt Nam hiểu được rằng tôn giáo có những mặt tích cực và nó có thể góp phần vào việc phát triển xã hội Việt Nam và nó cũng chính là cầu nối tiếp xúc văn hoá đông tây. Có thể nói rằng sự tiếp xúc văn hoá trong quá khứ giữa Việt Nam và Hán giữa Việt Nam và phương Tây đã tạo nên hai luồng cơ sở cho sự hình thành và ảnh hưởng rất nhiều đến các phát triển xã hội đặc biệt trong lĩnh vực xã hội và nhân văn trong quãng thời gian kể từ khi nước Việt Nam giành được độc lập đến nay và hai dòng đó cũng luôn luôn tồn tại trong mọi ảnh hưởng mà dưới đây chúng tôi sẽ phân tích đến khía cạnh giáo dục như là một trong những nét phản ảnh rất rõ đặc trưng này. Văn hoá Việt Nam đã có kinh nghiệm trong tiếp xúc hai dòng văn hoá là tiếp xúc với nho giáo với những nguyên tắc có tính tín điều và và tiếp xúc với tư tưởng phương Tây hậu kỳ mà ta thường gọi là tư tưởng của khoa học, thiên về lý trí về tự do và dân chủ khác hẳn với truyền thống nghiêm ngặt kỷ cương và cứng nhắc của nho giáo.
 
                                                          II
 
                  Vấn đề thứ hai mà chúng tôi muốn đề cập trong tham luận này là sự tiếp xúc văn hoá Việt Nam trên bình diện hẹp hơn tức là trên bình diện giáo dục.
               Như chúng ta đã biết trước khi tiếp xúc với phương Tây thì Việt Nam đã có hệ đào tạo riêng về mặt giáo dục, về cơ bản, được cấu trúc theo nho giáo. Có thể nói rằng giáo dục theo nho giáo là giáo dục theo nguyên tắc kỷ cương và đạo đức nhưng mà mục đích đào tạo những người theo khoa cử và từ khoa cử ra là để làm quan và làm quan là để cai trị giữ nguyên kỷ cương phép nước theo lề thói phong kiến giữ vững trật tự của vua. Theo đó, lối đào tạo suốt cả một nghìn năm không phải để đào tạo nguồn lực cho xã hội không phải để phát triển mà để duy trì nền cai trị của chế độ phong kiến ở một nước nông nghiệp.  Dẫu rằng người Việt Nam trong khi tiếp xúc với văn hoá Hán đã tìm cách nội địa hoá nho giáo nhưng mà như chúng ta đã biết chế độ khoa cử kể từ khi Việt Nam bắt đầu thực hiện ( Nhà Lý) và đặc biệt là dưới thời Lê là thời kỳ mà việc đào tạo đi vào bài bản rồi thì mục tiêu cuối cùng vẫn là đào tạo ra những người làm quan. Từ đó hình thành nên một nguyên tắc dường như đã hành chính hoá nền giáo dục Việt Nam theo những định chế mà cho đến tận ngày hôm nay trong nền giáo dục hiện đại của chúng ta vẫn chưa thay đổi chưa đổi mới được là bao. Mọi gia đình đều mong con học để đỗ đạt để thoát nghèo, để có cương vị xã hội ( gắn với quyền lực hành chính). Hẳn vì thế có thể nói nội dung đổi mới đối với giáo dục ngày nay là làm sao giảm tính nho giáo truyền thống qua chế độ thi cử và cung cách đào tạo ngày nay.
                Tuy vậy nền giáo dục phong kiến mang tính chất chặt chẽ đôi khi gọi là hà khắc đó một mặt đào tạo ra những người có tri thức mang đầy tính giáo điều thiếu tính thực tiễn hướng về mục tiêu chung là đào tạo ra những người có kinh nghiệm trong cai trị nhưng một mặt khác giáo dục kiểu đó cũng đã đào tạo ra những con người có khả năng tự học rất cao. Đào tạo theo hệ thống giáo dục theo kiểu nho giáo thì người thầy dạy theo những nội dung giáo dục đã được định sẵn nhưng người học trò phải tự tìm hiểu tự tiếp xúc “dùi mài kinh sử” với các sách các bộ kinh điển và những gì nền giáo dục qui định. Khả năng tự học  dù tự học trong khuôn phép của những giáo điều nhưng rõ ràng đào tạo tự xoay xở rất giỏi trong học thuật. Nền giáo dục này không đào tạo nguồn lực lao động, nó mang tính khẳng định, tính giới thiệu nhiều hơn, học vấn khoa cử gắn liền với quyền lực và đặc biệt là cai trị và quản trị.
            Khi Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với nền giáo dục kiểu mới của phương Tây thì tình hình có thay đổi. Sự tiếp xúc này đưa đến những nhận thức gần như đảo ngược những giá trị truyền thống của nho giáo và rõ ràng trong tiếp xúc ấy người Việt Nam cũng đã chấp nhận sự đổi mới, đổi mới nghĩa là không giữ nguyên cái cũ nữa mà phải có cách tiếp cận mới và để mà làm được việc đó phải có tư duy phân tích, phê phán nghĩa là phải có lô gich để khám phá bản chất và các quy luật của vấn đề. Phê phán không phải đứng ngoài phê phán mà đi từ bên trong và phải nhìn thấy những cái khiếm khuyết của hệ thống giáo dục nho giáo mà phải có cách lý giải mới thì mới giải quyết được khó khăn của lối học cử tử.
           Tiếp xúc giáo dục của Việt Nam và phương Tây tiêu biểu nhất là từ cuối thế kỷ 19 khi mà nước Pháp thực dân bắt đầu đô hộ Việt Nam và kéo dài tới gần 80 năm. Nền giáo dục mới này mang không khí của châu Âu thay vì trước kia là lấy châu Á làm trung tâm. Những cải cách giáo dục tuy hướng tới những cái mới nhưng ở đây có ba vấn đế là a) sự tiếp xúc tự nhiên và b) chấp nhận sự tham gia của nhà nước tức là chính quyền chế độ thực dân Pháp, c) từ bỏ Hán học và lối học từ chương. Ngoài những biện pháp hành chính của chính quyền thực dân như là mở trường dạy tiếng Pháp mở trường Pháp - Việt rồi  chỉ đình chỉ việc thi chữ Hán, trên thực tế và trên lý thuyết chấm sự hiện diện của giáo dục Hán học ở Việt Nam. Đầu thế kỷ 20 chính quyền Pháp đã cho xây dựng đại học ở Đông Dương ví dụ như trường Y năm 1906 rồi những trường sau đó từ  năm 1908 thì hình mẫu giáo dục đại học cũng được nhanh chóng tiếp nhận đồng thời mục tiêu đào tạo cũng bắt đầu chuyển sang đào tạo nguồn lực, nguồn lực này vẫn là để phục vụ cho chế độ cai trị, duy trì chế độ thực dân cho nên tuy cung cách đã thay đổi nhưng mục tiêu vẫn chưa thay đổi. Chế độ thực dân Pháp chưa bao giờ đặt mục tiêu đào tạo nguồn lực cho thuộc địa bởi vì nếu đào tạo nguồn lực cho thuộc địa là đào tạo ra một hệ thống để chống lại chế độ thực dân của chính quốc mà vấn đề là nó muốn đạo tào ra một hệ thống những người bản địa thực thi những cái        quan niệm của chế độ thực dân tại Việt Nam. Như đã phân tích ở phần trước dẫu tiếp xúc với Hán hay với Pháp thì văn hoá Việt Nam nó có một nguyên tắc là tìm cái có lợi cho mình cách nội địa hoá  theo nguyên tắc lợi ích. Vì vậy ngay từ đầu tiếp xúc với phương Tây qua nền giáo dục thực dân Pháp thì người Việt Nam vẫn tương kế tựu kế và đưa vào đó những tư tưởng mới để mà tìm cách cứu nước, tìm cách giành lại độc lập dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà từ cánh cửa của nền giáo dục kiểu phương tây, giáo dục Việt Nam trong thể chế mớiđào tạo ra một lớp người nắm vững cả văn hoá truyền thống và văn hoá hiện đại để rồi trở thành những chiến sĩ cách mạng trung kiên của công cuộc giải phóng dân tộc chống lại chế độ thực dân: Chúng ta thấy từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và nhiều nhà cách mạng tiêu biểu  khác có đi qua hệ thống giáo dục Pháp - Việt đã là những người tiếp thụ được cái tư tưởng mới về giáo dục nhưng không phải trở thành công cụ của chế độ thực dân mà ngược lại đã đi tiên phong chống lại chế độ thực dân, giải phóng dân tộc mang lại nền độc lập thực sự cho Việt Nam. Mô hình giáo dục mới có những đặc điểm tạo ra ảnh hưởng sâu sắc tới Việt Nam và theo chúng tôi có ba điểm cần phải lưu ý là a)giáo dục phương Tây, trước hết là tiếp cận với giáo dục Pháp. đã đưa đến Việt Nam một tư duy mới từ chỗ khoa cử cốt là đào tạo những người làm quan giúp cho họ hàng thì bây giờ tư duy mới đã giúp cho các trí thức Việt Nam thấy cần xuất phát từ thực tế của nước Việt Nam, thứ hai tìm hiểu xem những cái gì đã cản trở các hoạt động thực tiễn trước hết là tư duy sách vở kinh điển của nho giáo, thứ ba là tư duy này giúp gì cho việc hình thành cái tính cách Việt Nam mới, thứ nữa là đổi mới thì đổi mới bằng những phương cách gì ? Những câu hỏi trả lời về nguồn lực đều có thể tìm thấy trong giáo dục kiểu mới của châu Âu tuy nhiên những tư duy đó phải thể hiện ở những cái kỹ năng thao tác. Điều quan trọng nhất là nền giáo dục này bắt đầu giảng dạy ở Việt Nam theo nguyên tắc lôgíc tức là dựa trên phân tích, dựa trên chứng cứ chứ không phải dựa trên tín điều vì vậy nó gợi mở cho những người học và cả người dạy những trí thức mới về xã hội.
                 Thực ra tư duy giáo dục Âu châu không phải đến Việt Nam trực tiếp bằng việc mở trường hay bằng những chính sách giáo dục của giới chức cầm quyền Pháp mà nó đi qua con đường Tân thư và sự tiếp xúc với sự đổi mới ở nước nước láng giềng Trung Hoa. Tư tưởng của một phong trào Tân thư cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở  Trung quôc đã ảnh hưởng đếnViệt Nam và người ta bắt đầu các cải cách với những tư tưởng mới như Phan Châu Trinh rồi Lương Văn Can, Nguyễn Quyền,... với chủ trương xây dựng trường học kiểu mới mà dựa trên đổi mới tư duy thì rõ ràng thực dân Pháp không thích. Đông kinh nghĩa thục đã bị giải thể (1907) vì người Pháp cũng hiểu không khí dân chủ đến Việt Nam thì nó sẽ có tác động như thế nào đối với nền thống trị của thực dân.
               Tuy nhiên phải thấy rằng giáo dục lúc đó Pháp muốn đuổi giáo dục Hán học để thiết lập nền giáo dục thực dân của mình nhưng mà đấy là trong điều kiện chưa có đối trọng. Từ sau năm 1930 trở đi khi mà ở Việt Nam có phong trào yêu nước của đảng Cộng sản thì tình hình có thay đổi. Nền giáo dục của Pháp từ chỗ hoàn toàn mong muốn thiết lập chế độ nô dịch thực dân thì đến thập kỷ 30 trở đi Pháp bắt đầu thấy rằng không thể duy trì chế độ xã hội kiểu cũ có tính chất áp đặt vì nếu người dân một khi đã hiểu ra người ta sẽ đi theo cộng sản.  Vì vậy trong chính sách giáo dục Pháp cũng có sự nới lỏng nhất định và để cho những tư tưởng giáo dục tiến bộ vào Việt Nam dễ dàng hơn. Đoa là triết lý giáo dục mang tính dân chủ mang tính nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945, trong đó bao hàm cả giáo dục, có sự cởi mở, sự cởi mở đó chắc chắn theo chúng tôi nghĩ có đối trọng. Một số người cộng sản trung kiên nhất của giai đoạn này đi ra từ nền giáo dục Pháp và chính họ cũng đã nhận thức được mặt tốt từ khoa học, tư duy phản biện và óc phê phán của tư duy văn hoá phương Tây trong đó có giáo dục Pháp. Từ thập kỷ 30 bắt đầu có nhiều du học sinh, tất nhiên từ con cái tầng lớp khá giả và cả học bổng của chính phủ Pháp đã cấp cho một số người có thể qua Pháp học được và sau này chúng ta thấy rằng những người đi học nhưng không trở thành quan lại không trở thành tay sai của pháp mà trở thành những nhà nghiên cứu những nhà khoa học, kỹ trị, những nhà trí thức đầy tính dân tộc và khi cách mạng thành công thì họ sẵn sàng từ bỏ những quyền lợi vật chất và những hư danh để mà đi theo cách mạng.
                 Như vậy từ truyền thống yêu nước đã thấm sâu vào xương tuỷ văn hoá Việt Nam và vào trí thức Việt Nam. Thực tế mà nói thì tiếp xúc giáo dục Pháp - Việt đã mở đầu cho một lớp trí thức mới của dân tộc Việt Nam, đặc điểm chung của tri thức đó là có tính dân tộc có lòng yêu nước và một bộ phận rất lớn trong số những người trí thức ấy đã đi theo Hồ Chí Minh bởi vì nhận thấy ở Hồ Chí Minh cũng là người đại diện cho lòng yêu nước , đại diện cho cả một tầng lớp trí thức Việt Nam lại có nhiều tiếp xúc với văn hoá quốc tế trong đó có văn hoá Pháp. Hồ Chí Minh là người đã nhuần nhuyễn khi tiếp cận với văn hoá Pháp cho nên khả năng chinh phục của người là rất lớn đối với trí thức Việt Nam mà Người đã trở thành ngọn cờ lớn nhất để tập hợp tư tưởng yêu nước.
                Giáo dục Pháp - Việt trong thời kỳ tiếp xúc có những hệ quả ngoài mong muốn của các quan chức thực dân và thực dân thì đào tạo bộ máy cai trị không theo nho giáo mà theo hành chính pháp luật kiểu phương Tây và đó cũng chính là đặc điểm Việt Nam khi nội địa hoá các tiếp xúc
                   Từ sau khi cách mạng tháng 8 thành công thì nước Việt Nam bước vào giai đoạn mới và trong vòng sáu mươi năm qua tình hình có rất nhiều thay đổi việc tiếp xúc quốc tế từ chỗ chỉ tiếp xúc với Pháp thì sau này tiếp xúc quốc tế Việt Nam đặc biệt về giáo dục có những thay đổi rất là quan trọng.
Sự tiếp xúc quốc tế của giáo dục Việt Nam sau cách mạng tháng 8 có thể tạm chia thành ba giai đoạn nhỏ, giai đoạn đầu sau năm 1945 - 1954 đó là thời kỳ tiếp tục những gì mà trước đó đã có đồng thời xuất hiện nhân tố mới, Trước đó là vì cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra, một mặt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng Việt Nam không bài xích nước Pháp nói chung và nhân dân Pháp mà ngược lại tình đoàn kết giữa những người Pháp chân chính đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng được thể hiện rất rõ . Giai đoạn này thì văn hoá Việt Nam theo một quán tính tiếp xúc quốc tế, nó có giới hạn bởi vì chúng ta bị tách biệt, bị bao vây bởi chính quyền Pháp vì vậy cho nên những gì còn tiếp tục trong giáo dục thì mang tính chất quán tính của những gì đã sẵn có từ trước cách mạng Tháng 8: Chúng ta thấy ở bậc phổ thông khung đào tạo vẫn như cũ với bậc học tiểu học, trung học, chuyên khoa, các trường đại học và dự bị đại học tản cư lên Việt Bắc hoặc vào khu 4 giảng dạy nội dung mới nhưng khung đào tạo vẫn theo kiểu Pháp Từ năm 1950 trở đi sau chiến thắng rồi khai thông biên giới thì Việt Nam bắt đầu có những tiếp xúc tăng dần với các nước dân chủ nhân dân Trung Quốc, Liên Xô, các nước Đông Âu và sự tiếp xúc văn hoá mới này cũng mang lại luồng gió theo kiểu mới cho giáo dục. Nhiệm vụ “tất cả cho tiền tuyến, Tất cả để đánh thắng” cho nên những giao lưu về mặt văn hoá giáo dục cùng với giao lưu về mặt chính trị đều có cùng với mục tiêu là giải phóng dân tộc.
              Riêng về mặt giáo dục thì Việt Nam có sự thay đổi khá rõ do có sự tiếp xúc quốc tế kiểu mới, từ năm 1951 đào tạo giáo dục phổ thông của Việt Nam bắt đầu chuyển từ hệ thời Pháp thuộc sang hệ 9 năm rồi sau đó theo hệ 10 năm của các nước xã hội chủ nghĩa ( mô hình Xô Viết) với việc học này chia thành hệ cấp 1 cấp 2 cấp 3 , Sự thay đổi này trước hết là sự thay đổi về khung đào tạo và nội dung chương trình. Kết quả của sự tiếp xúc văn hoá mới cũng thể hiện ở bậc đại học từ năm 1951 các trường đại học Việt Nam ở vùng kháng chiến chuyển sang giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt đây là một tiến bộ lớn của giáo dục và khoa học Việt Nam . Tuy nhiên cách dạy và cách học ở bậc đại học vẫn theo nguyên tắc cũ nghĩa là theo kiểu Pháp, dù rằng những nội dung khoa học  tự nhiên và xã hội đã được cải tiến nhiều tinh thần nước Việt Nam đã giành được độc lập và quyết tâm bảo vệ cái độc lập.Đây là một thời kỳ chuyển tiếp.
               Giai đoạn thứ hai từ năm 1954 - 1975 đất nước Việt Nam tạm thời chia thành hai miền, hoàn cảnh lịch sử đưa đến ở Việt Nam có hai tiếp xúc văn hoá khác nhau, một bên là tiếp xúc văn hoá giữa miền bắc với văn hoá các nước dân chủ nhân dân về sau là các nước xã hội chủ nghĩa còn ở miền nam thì có sự tiếp xúc văn hoá với phương Tây trước kia là văn hoá Pháp sau này dần dần tiếp xúc với văn hoá Mỹ và cả tiếp xúc hai miền đều đưa đến những tác động khác nhau. Riêng về mặt giáo dục, ở miền bắc đặc biệt có sự chuyển biến lớn kể từ sau năm 1954 là việc một loạt các trường đại học được thành lập và đào tạo theo mô hình Xô Viết .  Việt Nam đã gửi đi đào tạo một loạt giáo viên cũng như các chuyên viên kỹ ở Liên Xô và các nước Đông Âu trở về tăng cường nguồn lực cho các trường đại học. Các trường đại học theo mô hình mới có bậc học khác nhau chẳng hạn như bậc đại học sau đó là bậc nghiên cứu sinh và không có bậc cao học và đạo tạo thì theo niên chế. Tuy đa ngành đa lĩnh vực  nhưng có sự chú ý nhiều hơn đến khoa học cơ bản nhờ đó đại học Việt Nam trở thành nhân tố rất quan trọng Được đào tạo nhiều từ thời kỳ từ sau năm 1954 - 1975 khoa học cơ bản Việt Nam những ngành toán, vật lý, cơ học, hoá học, sinh học, địa, vật lý là những ngành mà trước kia chúng ta chưa có cơ sở thì giờ đây có hàng loạt những người dần dần trở thành những chuyên gia và như vậy nguồn lực đã được tăng cường một cách rất cơ bản nhờ tiếp xúc quốc tế, về phương diện kỹ thuật chúng ta cũng đã có những ngành như chế tạo máy, mỏ luyện kim, hoá chất, dệt, giao thông vận tải, xây dựng, nghĩa là qua tiếp xúc quốc tế Việt Nam xây dựng một hệ thống đại học khá hoàn chỉnh ở miền bắc bao gồm những khoa học cơ bản khoa học công nghệ khoa học nông nghiệp nhưng trong khi đào tạo mạnh về cơ bản như vậy thì phương diện ứng dụng có yếu hơn nhất là tính thực hành và kỹ năng ứng dụng. Chúng ta cũng xác lập được những cương vị nhất định trong đào tạo cơ bản nhưng về mặt khoa học ứng dụng đặc biệt nghiên cứu triển khai từ cơ bản lý thuyết đến thực tế rõ ràng là vẫn chưa là mũi mạnh.
            Ở miền nam thì hệ đại học sau 1954 cũng đã được cải tiến chuyển từ hệ thống Pháp sang hệ thống Mỹ nhất là ở bậc sau đại học tập trung vào lĩnh vực cao học với những ngành như nông lâm ngư về y học. Cả hai tiếp xúc của miền bắc và miền nam đến lúc thống nhất đất nước Việt Nam sau năm 1975  đã bổ sung cho nhau và tạo nên hệ thống giáo dục đào tạo tương đối hoàn chỉnh và điều quan trọng là nhờ có tiếp xúc quốc tế về giáo dục đã mang lại hiệu quả lớn trong việc tạo nguồn cho Việt Nam và có thể nói đấy chính là cơ sở cho chúng ta phát triển giáo dục sau này nhất là từ khi có công cuộc đổi mới. Đặc điểm đào tạo truyền thống Pháp pha lẫn truyền thống Liên Xô sau đó hoà nhập với dòng chảy cách đào tạo của Mỹ  đã tổng hợp lại và Việt Nam lại một lần nữa tìm cách nội địa hoá những gì mà học tập được mà tiếp nhận được qua các tiếp xúc về giáo dục.
           Việc chuyển hệ thống giảng dạy đại học từ tiếng Pháp thuần tuý sang giảng dạy bằng tiếng Việt ở miền bắc từ năm 1951 ở miền nam từ năm 1961 đã cho thấy thành tựu đầu tiên của việc nội địa hoá trong tiếp xúc văn hoá trước kia không ai có thể hình dung được người ta có thể dạy đại học bằng tiếng Việt cho tất cả các ngành các nghề nhưng cuối cùng nó đã trở thành hiện thực kế sau đó là những nội dung giảng dạy theo phương châm: “ Cơ bản-Việt Nam-Hiện đại” trên cơ sở những cái khung khác nhau dần dần nó cũng hình thành một cái khung của Việt Nam. Cái khung đó là không phải là mô phỏng như người ta nghĩ mà đều tự học từ những kinh nghiệm thực tế và những kinh nghiệm , người ta thấy rằng nội địa hoá này phù hợp với thực tiễn Việt Nam và cách làm của Việt Nam.
               Công cuộc đổi mới 1986 có tính cách mạng trong sự phát triển của Việt Nam bởi vì nó đã thay đổi những quan điểm rất cơ bản trong việc phát triển xã hội đặc biệt hướng xã hội tới các phát triển bền vững. Thời kỳ này thì Việt Nam không còn tiếp xúc theo kiểu từng mảng như ở giai đoạn trước mà theo khẩu hiệu Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, nội dung là hội nhập kinh tế sau đó hội nhập đa diện hơn. Lúc này, tiếp xúc của nước ta trong vòng 30 năm qua trở nên rất đa dạng mang lai nhiều cơ hội và kết quả thể hiện ở chỗ là đã có hàng ngàn hàng vạn người được đào tạo ở các quốc gia khác nhau cả những quốc gia truyền thống và cả quốc gia mới và là nguồn lực mới để mà phát triển thông qua tiếp xúc giáo dục đồng thời các nguồn văn hoá Việt Nam cũng rất được tích cực giới thiệu giao lưu với thế giới. Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi, rất nhiều mô hình ở đây đã được thử nghiệm theo hướng mới trong cả giáo dục đào tạo nghiên cứu khoa học và phát triển văn hoá, lúc đầu chúng ta cũng có những lúng túng và những do dự thậm chí sai sót nhưng mười lăm năm trở lại đây thì dần dần đã bình tĩnh hơn tự tin hơn và Việt Nam đã bắt đầu một quá trình mới là chủ động nội địa hoá những gì tiếp nhận được từ quốc tế để hoà nhập. Giáo dục hôm nay vẫn là bài toán lớn và bài toán khó với rất nhiều bất cập và đặc biệt là cải cách giáo dục là vấn đề rất lớn mà chúng ta cần phải suy nghĩ cân nhắc. Nhìn chung sự phát triển về lượng và về chất trong hai mươi mấy năm qua đã có bước tiến về phía trước và nguồn lực nhờ đó đã được cải thiện một bước đáp ứng một phần nhu cầu phát triển . Chắc chắn nếu không phát triển nguồn lực chúng ta không thể đạt được những tiến bộ như hôm nay cho dù còn rất nhiều điều cần phải bàn và cần phải cải tiến phải sắp xếp phải thay đổi .Phải tính đến những kết quả nhờ tiếp xúc quốc tế về giáo dục để cải thiện nguồn lực.
 
                                                        III
 
                Chúng tôi chuyển sang phần thứ ba của bản tham luận này là khi đề cập đến vấn đề cụ thể hơn trong phát triển kinh tế xã hội thông qua sự phát triển đại học. Việt Nam đổi mới đến nay đã được hai mươi lăm năm trong vòng một phần tư thế kỷ đó chúng ta đã có sự phát triển khá về kinh tế và bước vào cuộc cạnh tranh toàn cầu và cuộc cạnh tranh đó đang được tăng lên đặc biệt cần gắn với việc thúc đẩy của tri thức. Các trường đại học đóng một vai trò chủ chốt trong bối cảnh phát triển giáo dục để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Đồng thời trong tiếp xúc quốc tế chúng ta cũng phải nhận thấy sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học và công nghệ và chính sự phát triển này đã tạo nên những tiềm lực to lớn để giúp cho các quốc gia tăng tốc và đẩy mạnh phát triển kinh tế việc ứng dụng các tri thức mang lại nhiều cách thức sản xuất hàng hoá dịch vụ mới cũng như việc phân phối hàng hoá dịch vụ mới theo những hiệu quả mới hơn với chi phí thấp hơn. Đại học của chúng ta cũng đã bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế mà bốn phương diện chiến lược giúp các quốc gia định hướng chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức đều có tác động và có ảnh hưởng kể cả Việt Nam: Thứ nhất là một cơ chế kinh tế và một thể chế phù hợp, thứ hai một nền tảng mạnh về nguồn nhân lực, thứ ba là có một hạ tầng cơ sở và năng động, thứ tư có một hệ thống đào tạo xứng đáng với tầm quốc gia và hệ thống đào tạo này phải có hiệu quả. Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cũng phải lấy bốn cái trụ cột của khuôn khổ này để làm chỗ dựa cho mình và đây cũng là nền tảng để giúp cho việc xây dựng nguồn nhân lực và đóng góp cho sự phát triển quốc gia có hiệu quả trong thời kỳ mới. Giáo dục đại học của chúng ta sẽ phải tham gia vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo bởi vì nước ta mới chỉ bước vào cận cửa của thu nhập trung bình trên thế giới và cho nên xoá đói giảm nghèo vẫn là vấn đề rất lớn, vẫn phải được tiếp tục, không những như thế còn phải củng cố tăng cường chất lượng xoá đói giảm nghèo Đồng thời giáo dục đại học phải góp phần làm thế nào để mà hạn chế khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng lên, theo đó,  không có cách nào khác ngoài việc chúng ta tham gia vào việc phát triển lực lượng lao động tăng năng suất lao động từ các ngành nghề làm thế nào nguồn nhân lực đó có khả năng sáng tạo áp dụng phổ biến phố biến được ý tưởng và các công nghệ mới.
                 Các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta từ bắc đến nam đóng một vai trò quan trọng trong việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế cần phải hoạt động có hiệu quả nó thể hiện ở a) các mô hình tổ chức phù hợp, bao gồm những trường đại học nghiên cứu tức là những trường đại học lớn đầu ngành mũi nhọn, các trường bách khoa là các trường về công nghệ và kỹ thuật và các trường khoa học xã hội và nhân văn là đào tạo con người. Các cơ sở đào tạo này có thể là ngắn hạn và cùng với các trường cao đẳng cộng đồng các đại học khác thì đào tạo ra nhiều loại bao gồm cả những người có trình độ cao và phải đào tạo ra những người có trình độ trung bình và những người lao động lành nghề mà thị trường lao động luôn luôn tìm kiếm.
                 Trong khi tiếp xúc quốc tế đại học của chúng ta cũng phải tạo được cân đối giữa các thành phần khác nhau như đã nói là một thời gian chúng ta quá tập trung chú trọng vào việc phát triển khoa học cơ bản coi nhẹ khoa học ứng dụng thì ngược lại ngày nay tránh những khuynh hướng chỉ chạy theo ứng dụng mà coi nhẹ việc đào tạo khoa học cơ bản và phải đi bằng hai chân rất vững vừa khoa học cơ bản vừa phát triển khoa học ứng dụng đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, nông nghiệp và ngành mới nhất tức là tin học Trong hệ thống giáo dục thì đại học nghiên cứu có một vai trò chủ chốt trong việc đào tạo những chuyên gia cao cấp những nhà khoa học và những nhà nghiên cứu cần thiết cho nền kinh tế được tạo ra tri thức mới nhằm hỗ trợ cho các hệ thống sáng tạo. Chúng tôi muốn nói điều này vì nó gắn với lợi ích và trách nhiệm của Đại học Quốc gia Hà Nội trong cái sứ mạng đại học Quốc gia Hà Nội mong muốn hướng tới là một trường đại học nghiên cứu đa ngành mũi nhọn chất lượng cao và có khả năng hội nhập quốc tế lớn và trong mong muốn hội nhập quốc tế lớn đó thì phải sớm trở thành một đại học có tính cạnh tranh cao đồng thời lại có khả năng đào tạo, có nguồn lực làm thế nào tham gia sự phát triển đất nước mà thể hiện đẳng cấp của mình Tất nhiên ở đây có vai trò của tự thân đại học và có vai trò của nhà nước trong việc đầu tư và nhất là kết hợp cả hai chiến lược đó.
            Nhân nói về đại học đẳng cấp quốc tế.
            Phải nói rằng đại học trên thế giới thì có rất nhiều trường muốn hướng tới vị trí đẳng cấp quốc tế và việc này đang trở nên phổ biến vì đại học với đẳng cấp quốc tế thì cũng là cái chuẩn mực mà bất kì quốc gia nào cũng khát khao vươn tới. Ngay cả ở Mỹ có bốn nghìn trường đại học nhưng đại học mang đẳng cấp thế giới cũng chỉ vài chục trường, những trường nổi tiếng như đại học Harvard, Yele, Princeton, Columbia,.... ở nước ta việc mà hướng tới đầu tư xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế cần thận trọng nhưng cũng đồng thời phải tích cực hướng tới. Đại học đẳng cấp quốc tế định nghĩa cũng có khi là đồng nghĩa với khái niệm đại học tinh hoa, do vậy người ta dễ cho rằng những nước đang phát triển thì khó lòng đạt đến bởi những nền giáo dục tiên tiến có truyền thống lâu đời như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản mới vươn tới vì điều đó không phải là dễ. Tuy nhiên bài học cụ thể chúng ta thấy rằng những trường đại học ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Australia gần đây vươn lên của họ rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng như là tấm gương như là mô hình như là kinh nghiệm để cho đại học Việt Nam học tập và hướng tới xây dựng thương hiệu, xây dựng đẳng cấp khu vực, từ đẳng cấp khu vực tiến xa là đẳng cấp quốc tế.
                 Chúng tôi cho rằng phải đi từng bước có chiến lược và chiến lược này theo chúng tôi nghĩ thì nên là chiến lược hữu xạ tự nhiên hương tức là củng cố nội lực của mình để tiếp cận đẳng cấp thế giới chứ không phải làm PR để mà trở thành đẳng cấp, có hai việc rất khác nhau một là sự cố gắng nội lực để vươn tới và thứ hai là tập trung để làm PR nhăm xây dựng đẳng cấp quốc tế. Cái thứ nhất phải từ nội lực mới đẻ ra cái thứ hai chứ không bao giờ cái thứ hai tạo ra cái thứ nhất vì vậy cho nên muốn cho một vài đại học ở Việt Nam vượt lên dẫn đầu trong số các trường cùng nhóm ở trong nước rồi từ đó mới mong tìm ra con đường phù hợp đạt được vị thế trong mối tương quan các trường đại học trong khu vực. Rõ ràng là "dục tốc bất đạt" tức là muốn cũng vội cũng không xong được, cũng rõ ràng không có một mô thức hay một khuôn mẫu nào cho ta có thể nhanh chóng đạt được vị trí bởi vì xưa nay cũng chưa có một định nghĩa khả dụng nào về đại học đẳng cấp thế giới hay đẳng cấp quốc tế. Việt Nam trong thời kỳ hiện nay   chúng ta có tiêu chí để mà so sánh, trước kia chúng ta chỉ so sánh với mình nhưng bây giờ chúng ta có rất nhiều điều kiện để so sánh với các nước xung quanh chúng ta Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc và có những nước tiến bộ nhanh hơn ví dụ như trong khu vực chúng ta có Singapore, Chúng ta cũng giữ các mối quan hệ với các đại học truyền thống của các nước Đức, Ba Lan, Nga, Trung Quốc và cả những địa chỉ mới như Nhật Bản, Mỹ, phương Tây,… thứ hai chúng ta có điều kiện để cạnh tranh, trước kia trong thời kỳ bao cấp các trường đại học làm nhiệm vụ của mình theo kế hoạch, trên giao nhiệm vụ hàng năm chúng ta thực hiện theo kế hoạch còn bây giờ các trường muốn xác định được cương vị của mình thì phải cạnh tranh, cuộc cạnh tranh ở trong nước chúng ta thực ra đã bắt đầu và đang trở nên rất quyết liệt giữa các trường không phải chỉ trong khu vực công lập mà cả trong khu vực tư nhân và cuộc cạnh tranh đó sẽ làm cho cái mong muốn của chúng ta có bề thực tế hơn. Cứ nhìn vào biểu ngôn (slogan) của các trường đại học chúng ta thấy rằng trường nào cũng có hướng tiến lên, vươn lên giành lấy vị trí trong cuộc cạnh tranh nội địa và trong khi cạnh tranh nội địa như vậy trường nào cũng tìm cách tiếp cận quốc tế và tìm cách học tập những kinh nghiệm quốc tế áp dụng cho mình và rõ ràng trong sự suy nghĩ đó cũng tiếp tục nội địa hoá các tiếp xúc quốc tế.
               Một trường đại học quốc tế mở ở Việt Nam cũng khác với trường đại học Việt Nam ở tại Việt Nam học tập kinh nghiệm quốc tế, các nhà lãnh đạo của các đại học cũng luôn luôn muốn xuất phát từ thực tiễn của mình chứ không hoàn toàn bắt chước những khuôn mẫu và kinh nghiệm cho thấy khi nào mà bắt chước mà mô phỏng là chúng ta thất bại còn khi nào chúng ta xuất phát từ thực tiễn Việt Nam dù khó đến bao nhiêu thì nhiệm vụ chúng ta cũng có thể thực hiện được có thể hoàn thành được, đây không chỉ kinh nghiệm đại học kinh nghiệm cách mạng Việt Nam cũng vậy, tức là khi nào độc lập tự chủ suy nghĩ trên thực tế của mình tìm ra giải pháp thì chúng ta luôn luôn giành được thắng lợi.
               Vài mươi năm gần đây thuật ngữ đại học đẳng cấp thế giới hay đẳng cấp quốc tế đã trở nên quen thuộc mang nghĩa là đại học tích cực cải thiện chất lượng, tích cực nghiên cứu mà quan trọng hơn nó phát triển năng lực cạnh tranh trong môi trường giáo dục. Giáo dục đại học nước ta cần lĩnh hội thích ứng và sáng tạo để học tập tìm cách tối đa tối ưu hoá lợi ích thu được từ những đầu tư và tìm kiếm những mô hình mới, phù hợp với thực tế. Hướng tới một đại học đẳng cấp thế giới là mong muốn,là khát vọng, nhưng một cách cực đoan có người ví dụ như Ansbach (2004) đã nói rằng "Mọi người đều muốn có trường đại học đẳng cấp thế giới nhưng chẳng ai biết nó là cái gì và tất thảy đều không biết bằng cách nào để có nó". Đây cũng là một cách nói để nói lên rằng vấn đề rất khó khăn và cần được tiếp tục xác định, còn việc có trở thành đặc quyền để bước vào đẳng cấp thế giới thì không chỉ là vấn đề ưu tiên trong  việc xếp hạng mà ngược lại muốn được quốc tế ghi nhận phải tích cực phấn đấu, dù đó là Harvard, Yale, Columbia, Oxford hay Cambridge thì cũng không phải là tự mình cho mình cái đặc quyền. Tất cả vấn đề là kết quả nổi bật đào tạo sinh viên đào tạo cao học kết quả nghiên cứu khoa học, kết quả chuyển giao công nghệ mới là phần xác định.
               Thực tế Việt Nam hiện nay còn ở thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế từ hệ thống kinh tế bao cấp sang hệ thống kinh tế thị trường đang có nhiều vấn đề còn phải mò mẫm,tìm kiếm, khai phá bởi vì xuất phát của chúng ta còn thấp kinh nghiệm của nền kinh tế thị trường trong quá khứ chưa nhiều và thứ ba quyết tâm của chúng ta thì lớn nhưng mà cách thức làm việc của chúng ta còn nhiều điều bất cập.
             Việc xây dựng quan niệm về các trường đại học đẳng cấp ở ta cũng có một bộ phận rất muốn nhanh chóng đưa một vài đại học Việt Nam vào bảng xếp hạng của quốc tế và khu vực. Khuynh hướng tăng cường nội lực xây dựng chất lượng và tăng cường đầu tư để từng bước dần dần tiến tới đẳng cấp chúng tôi cho là hợp lý hơn. Thật ra không nên quan lắm đến việc xếp hạng bởi vì hai lý do a) nếu xếp hạng bây giờ thì các đại học Việt Nam chưa có hạng nào thật cụ thể, b) những cố gắng của chúng ta trong tiến tới xếp hạng cũng còn phải phấn đấu rất nhiều đặc biệt việc nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học và chất lượng sản phẩm nghiên cứu
         Có thể nói rằng cận cảnh năm năm, mười năm, hai mươi năm tới thì đẳng cấp đại học khu vực đối với Việt Nam vẫn rất hấp dẫn nhưng con đường đi đến sự chuyển đổi đó thì như thế nào bằng cách nào thì bên trong là nội lực bên ngoài là đầu tư từ nhà nước và các nguồn tìm kiếm. Cũng cần phải có lộ trình, có những bước đi thích hợp để chuyển đổi chính mình từ những trường đại học chưa có danh đến có danh, từ danh ít đến danh nhiều, từ có danh trong nước đến có danh trong khu vực, từ danh trong khu vực đến danh quốc tế.
           Ở đây có vấn đề vai trò của nhà nước . Đại học dầu sao cũng là công việc giáo dục mang tính phi lợi nhuận. Nhà nước cũng phải lo rất nhiều chuyện và chính phủ tìm cách đầu tư để nâng cấp các trường đại học có tiềm năng dần dần vượt trội. Thứ đến, khuyến khích một số cơ sở giáo dục hiện tại tạo ra những trường đại học mới với diện mạo mới có chất lượng mới và thứ ba là nếu vươn tới những trường đại học có đẳng cấp mà nhà nước không đầu tư thì chắc chắn không thể có.
              Ở cấp độ đại học thì phải suy nghĩ tại sao cần phải có trường đại học đẳng cấp? Tầm nhìn đối với trường đại học này là gì và nhà nước ta có thể ủng hộ cho bao nhiêu trường trong số hàng trăm số đại học đó vươn tới  đẳng cấp cao? Chiến lược nào là tốt nhất trong hoàn cảnh trong thực tế hiện tại? Trong nghiên cứu khoa học không chỉ là công bố kết quả công trình nghiên cứu khoa học, không chỉ là nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nghiên cứu, một công việc rất lớn nữa là công việc quản trị đại học. Quản trị đại học là một công việc rất mới ở Việt Nam bởi vì trước kia đại học nằm trong hệ thống công lập hoàn toàn và do nhà nước, do các bộ chủ quản quyết định và quản trị đó mang tính chất hành chính hoá còn giờ đây nếu để phát triển năng lực và phát triển cạnh tranh thì rõ ràng việc quản trị đó xuất hiện trong những tình hình mới là phải có tính tự chủ, hệ thống điều hành phù hợp và có quyền tự quyết nhưng đồng thời vẫn nằm trong khuôn khổ điều hành của của pháp luật. Quản trị đại học rõ ràng muốn đổi mới  thì kinh nghiệm cũng là phải nội địa hoá  các tiếp xúc quốc tê, bởi vì đại học quốc tế có khác với ta (chẳng hạn như tính tự chủ tính tự quản của các đại học và mối liên hệ giữa nó và sự quản lý nhà nước cũng khác ở ta) chỗ này phải suy nghĩ phải tìm cách làm thế nào để quản trị là để phát triển quản trị là để tăng cường tính hệ thống để tăng cường tính năng động và tạo ra động lực cho các hoạt động.
               Nói tóm lại, thiết nghĩ không có một công thức chung nào hay một thuốc thần kỳ nào để mà tạo ra những trường đại học đẳng cấp cao mà vấn đề điều kiện của mỗi quốc gia điều kiện của mỗi vùng miền điều kiện của từng đơn vị sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại cho thấy rằng rõ ràng phải tìm một hướng đi cụ thể một lối đi riêng cho từng đơn vị đồng thời học tập kinh nghiệm thế giới trong tiếp cận. Chung quy là đại học của chúng ta ví dụ như Đại học Quốc gia Hà Nội làm thế nào để tập trung được nguồn lực lớn những chuyên gia giỏi, những nhân tài rồi phải đa dạng hóa nguồn lực và cách thức quản trị phải linh hoạt phải tiếp cận theo những con đường đã tự chọn được từ quá trình  nội địa hoá kinh nghiệm quốc tế. Trên thực tế Việt Nam mới phát triển trên mô hình đại học ngắn hạn,  tầm nhìn trung hạn, dài hạn còn hạn chế. Đại học đẳng cấp quốc tế hay là đại học chất lượng cao đại học nghiên cứu đều là những hướng đi nhưng trong thực tế thì có những trường thì lấy nghiên cứu làm trọng tâm có những trường lấy công nghệ làm trọng tâm có những nơi lấy đào tạo nguồn lực làm trọng tâm. Trường Khoa học xã hội và nhân văn phải tập trung vào nguồn lực tinh thần xã hội gắn với việc nhà trường tham gia giải quyết những vấn đề xã hội, phát triển bền vững. Cần nhìn nhận vấn đề này trong bối cảnh rất cụ thể là phải thấy được tầm quan trọng và ý thức phát triển trong đó trung tâm nhà trường vẫn là thầy và trò. Làm thế nào để nâng cao chất lượng của người thầy thông qua đào tạo nghiên cứu khoa học làm thế nào để đào tạo được học trò thông qua những hoạt động thực tiễn trong việc tiếp thụ kiến thức gắn nó với xã hội để sinh viên ra đời có thể nhanh chóng hoà nhập với xã hội để làm được những việc xã hội mong muốn và những nguồn lực xã hội mong đạt tớ.
           Vấn đề chúng ta không nên chỉ dừng lại ở cụm từ đẳng cấp quốc tế mà chúng ta phải hành động xuất phát từ thực tế, không phải chỉ thuần tuý chạy theo những hoạt động PR mà phải làm thế nào để "hữu xạ tự nhiên hương" qua nâng cao chất lượng từng bước để đi tới. Làm thế nào tìm kiếm được nguồn lực dồi dào và quản trị tốt nó. Phải phối hợp nhân tố của sự thành công và có được khuôn khổ của sự quản trị tốt, không bị giới hạn bởi những khó khăn trước mắt, tạm thời để tìm được cách đi thích hợp cho mình Thiết nghĩ đó vẫn là con đường tốt nhất để mở rộng được phát triển đào tạo và nâng cấp chất lượng nhằm tham gia vào sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện mới bởi vì đại học của ta phải tham gia vào phát triển kinh tế xã hội và trong vòng 10 năm tới các trường đại học Việt Nam vẫn phải tham gia vào công cuộc xoá đói giảm nghèo phát triển bền vững xã hội trước khi đi tới mục tiêu cao hơn.
                                       
                                                                                                                Đinh Văn Đức
 

 

 

 

 

 

 

TRANG THÔNG TIN TRUNG TÂM NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Địa chỉ: Phòng 114. Nhà A, 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội 
Điện thoại: (84-4) 3 5586 157   Fax:  (84-4) 3 8587 202
Website:
www.cvlc.edu.vn  - Email: ussh.cvlc@gmail.com